6 Bí Quyết Marketing cho Dev (P.3): Bức phá truyền thông truyền thống

250

Series bài viết gồm:

  1. Giới thiệu Thuật ngữ và BuzzFeed
  2. Sự ra đời và nguyên lý của Viral Marketing
  3. Bức phá truyền thông truyền thống: Native ad, Sponsored content, data – testing
  4. Đa dạng hóa
  5. Mở rộng sản phẩm, chiến lược phân phối và canh bạc với video
  6. Tranh cãi và Nguy cơ tiềm tàng

Ở phần 3 này, ta sẽ hiểu thêm về hai sáng chế cách mạng của BuzzFeed là Native ad và sponsored content; bạn cũng sẽ biết được tầm quan trọng của data trong marketing.

Bức phá truyền thông “truyền thống”

Tháng 4 năm 2014, Jordan Weissmann từ Slate tuyên bố rằng lợi nhuận từ quảng cáo báo in đạt mức thấp nhất từ 1950, cũng chính là năm Hiệp Hội Báo Chí Mỹ bắt đầu theo dõi những dữ liệu này. Hơn nữa, lợi nhuận đã giảm hơn 50% chỉ trong vòng 5 năm trước đó. Mat Honan từ Wired miêu tả bức tranh truyền thông hiện đại như sau:

“Trong vòng vài thập kỷ, trận chiến thị phần diễn ra rất khốc liệt ở khắp mặt trận. Với sự xuất hiện của web hiện đại, xuất bản online và blog hoàn toàn thống trị trên máy tính. Với sự ra đời của mobile, trận chiến giờ đây đã trở nên vô tận. Dù bạn đang làm gì – ăn, ngủ, uống, xem phim,… tin tức vẫn tìm cách tiếp cận bạn từ push notification đến social media streams.” [24]

Trong bối cảnh này, với cách thức tiếp cận hoàn toàn từ data và testing, phương pháp phân phối novel social, và nội dung uy tín tân tiến; BuzzFeed đã duy trì được tỷ lệ tăng trưởng phi thường. Và thành công này là kết tinh từ kinh nghiệm của Peretti với sự cố Nike và Hufington Post, chứ không chỉ là ngẫu nhiên “đẻ ra được”. Ông giải thích tiếp:

“Đối với tôi, đó là ba yếu tố: tin tức, giải trí, và quảng cáo. Cả ba ngành công nghiệp khổng lồ này đều cùng có một vấn đề ‘bám dai như đỉa’: Tất cả đều sẵn sàng đổi sang một thế hệ công ty mới với nhiều ý tưởng mới lạ. Tin tức quả thật rất quan trọng, nhưng đa số nội dung ta có hoàn toàn nghiêng về giải trí. Thực tế, báo chí giờ đây tràn ngập tin giải trí. The Sunday Styles chính là giải trí.” [8]

Matthew Ingram của Gigaom so sánh ngành công nghiệp sản xuất ô tô và công nghiệp báo chí, dựa trên cách mà hai ngành công nghiệp này disrupt (disruption: quá trình tạo thị trường và mạng giá trị của riêng mình, và cuối cùng thậm chí thay thế luôn các ông lớn trông ngành) thị trường: “Nếu quá trình disruption của hai ngành công nghiệp này khá tương đồng, vậy thì công ty nào chính là Tesla Motors (công ty sản xuất xe hơi disrupt trong ý của Mattew) của truyền thông?” Ingram nói tiếp, “Nói cách khác, công ty nào trong chục năm qua được xem là ‘disruption’ và buộc các công ty truyền thông khác phải thay đổi quan điểm cơ bản về ngành nghề này?” [9]

Ông nêu quan điểm rằng The Huffington Post đúng là đã có thời kỳ này, nhưng giờ đây trang web thiếu “năng lượng sáng tạo” nó từng có, có lẽ nguyên do là từ vụ thu mua bởi Aol. “Có vẻ như tinh thần sáng tạo ban đầu đã chạy đâu mất” ông tiếp tục, “có lẽ là sang những công ty mới hơn như BuzzFeed chẳng hạn, với cấu trúc khá giống với Huffungtin Post đời đầu,vì có cùng nhà sáng lập Peretti.” [9] Theo Ingram, BuzzFeed không chỉ đẩy mạnh những chiến thuật đem lại thành công cho The Huffling Post – như viral content và cách tiếp cận tập trung – bên cạnh đó công ty còn có phương pháp riêng để ‘quậy tung’ truyền thông lên với nhiều ý tưởng như native advertising, và các kiểu viết bài dài, chính trị,… [9]

Nhiều số liệu có vẻ như cũng ủng hộ ý kiến của Ingram. Tháng 6 năm 2013, Jon Evans từ TechCrunch cho biết, khi anh theo dõi lượng share social từ nhiều nguồn, không nguồn tin truyền thống nào (The Guardian, The Washington Post, The New York Times, The Wall Street Journal, New Yorker) đạt đến top 3, mà do BuzzFeed, Cracked, và The Onion (từ nhất đến ba) lần lượt nắm giữ. [2] Số liệu tương quan giữa BuzzFeed với New York Times.

Image via TechCrunch [2]
Image via TechCrunch [2]
Rất rõ ràng, lượt share chỉ là một trong nhiều thước đo thành công. Tuy nhiên. khi bạn tính cả thời gian mà mọi người đầu tư vào Facebook, Youtube, và Twitter (theo như biểu đồ bên dưới), cộng với việc nhiều người thường tìm đến một trang tin tức duy nhất, số liệu trên sẽ tăng theo cấp số nhân.

Image via Wired [24]
Evans nói thêm: ”Thật khó phủ nhận rằng các trang báo nhanh, theo lối low-journalism (với các tin tức thường nhật, nhại, vui, có thể hơi “nhảm”) gần đây đạt được nhiều thành công hơn so với mấy ông khổng lồ xưa, và có vẻ như xu hướng này sẽ còn tiếp diễn một thời gian dài.” [2] Evans còn cẩn thận chỉ ra: tuy vậy low journalism không đồng nghĩa với báo chí dở:

“High Journalism, như report điều tra của Snowden/NSA, giống như protein vậy; low journalism thì lại như socola. Chắc chắn sẽ có thị phần cho socola ngon như The Onion và Cracked, với những mẫu chuyện có giá nhưng cũng không kém phần hài hước. Còn BuzzFeed? Không được như vậy.” [2]

Evans nói về BuzzFeed như “một bộ mấy được lập trình biến động vật, ảnh động, và các thread Reddit thành pageview. Hoàn toàn chỉ là nước đường nhạt tuếc.” [2] Tuy vậy, đến giữa năm 2013, BuzzFeed bắt đầu thử nghiệm theo hướng đi nghiêm túc, Evans cho rằng đây là một bước đi mạo hiểm:

“Tôi thực sự rất ngưỡng mộ nỗ lực kết hợp của họ. Nếu họ thành công, BuzzFeed sẽ trở thành một trong những công ty nối tiếng nhất trong lịch sử truyền thông. Nhưng tôi không nghĩ việc này sẽ xảy ra. Thay vào đó, tôi nghĩ thế giới tin tức sẽ tiếp tục tách theo hướng high/hard và low/soft, và BuzzFeed sẽ nằm ở loại sau, mà còn là low và soft nhất nữa.” [2]

Tháng 7 năm 2013, Peretti công bố BuzzFeed bắt đầu sinh lời. [53]

Branded Content/Native Advertising

Vào đầu năm 2010, BuzzFeed hợp tác quảng bá nội dung cho chương trình mới của Comedy Với Perreti, native advertising không chỉ quan trọng với BuzzFeed, mà còn là một bước quan trọng trong chuỗi tiến hóa của nghệ thuật quảng cáo online.

Để tăng quy mô và thương mại hóa native advertising, BuzzFeed còn một bước gây quỹ nữa: [30]

Peretti giải thích:

“Bạn làm mới nội dung, và tái hiện các quảng cáo catchy, hấp dẫn như thế nào? Vì thiếu không gian, nên bạn khó có thể thực hiện điều này với banner. Nhưng sẽ rất khả thi với full post hoặc banner khổ lớn.” [11]

Tuy thuộc loại “Brand Publisher”, ta khó có thể phân biệt giữa native ads của BuzzFeed với nội dung báo chí chuẩn — tuy vậy, như Matthew Lynch từ M Magazine chỉ ra, “khi tôi nghiên cứu BuzzFeed, tôi click vào và đọc đến hai bài post trước khi nhận ra cả hai đều là quảng cáo.” [8]

Và đó là lý do thành công của BuzzFeed. Khi thế giới AdWords ngày càng tốn kém và cạnh tranh, cùng các ảnh quảng cáo phiền phức, thiếu hiệu quả, khách hàng tất nhiên sẽ rất thích thú với kiểu quảng cáo “chia sẻ” mới của BuzzFeed, Branded content được “kẹp” chung vào các bài viết “phải share” của BuzzFeed và được phân tán miễn phí. [13] [31]

Cuối năm 2012, BuzzFeed lôi kéo Jeff Greenspan (cựu giám đốc điều hành quáng cáo và nhân viên kỳ cựu của Facebook) về làm CCO (chief creative office – giám đốc sáng tạo). Nhiệm vụ của Greenspan tại đây là để đẩy mạnh native ads của BuzzFeed. Trước đó, đội ngũ quảng cáo do Jon Steinberg (chủ tịch kiêm giám đốc điều hành BuzzFeed) quản lý. [11]

Tháng 10 năm 2012, Steinberg tiết lộ mức giá cho mỗi chiến dịch quảng báo trên BuzzFeed, gồm 5 đến 10 bài viết quảng cáo, là 100.000$. Anh ấy nói thêm, BuzzFeed không tính phí theo bài viết mà là theo số nghìn lấn suất hiện của ảnh thumbnail và số “đơn vị bài viết” xuất hiện trên trang BuzzFeed, giá chuẩn cho mỗi nghìn lần xuất hiện trên mọi đơn vị quảng cáo là 9$. Hơn nữa, với nội dung quảng cáo trên Facebook và Twitter, khách hàng sẽ trả theo kiểu cost-per-click; với branded video do BuzzFeed seed sang các website khác, khách hàng sẽ trả theo kiểu post-per-click. Khách hàng cũng có thể trả phí hằng ngày để giữ bài viết trên trang chủ BuzzFeed, đơn vị quảng cáo ngay bên phải editorial headline có giá 8.000$ một ngày (2012) và rồi tăng lên 10.000$ một ngày (2013), trong khi sponsored content ở dòng headline thứ hai trên trang chủ – top story unit, mất 12.000$ một ngày (cuối năm 2012) và rồi tăng lên 14.000 một ngày (2013). [17]

Tuy không dùng banner ads trên chính trang web của mình, tháng 10 năm 2012, BuzzFeed bắt đầu thử nghiệm quảng cáo trên các website như The Awl và Cracked.com. Ví dụ như, Cracked.com sẽ feature một “mẫu bài viết” mang tiêu đề “Những giây phút thú vị nhất của tuổi thơ trong 28 bức ảnh”. Mẫu quảng cáo này do Geico tài trờ, khi click vào liên kết, người xem sẽ được chuyển đến bài viết quảng cáo trên Buzzeed.com. [17] Tháng 3 năm 2013, BuzzFeed mở rộng quy mô quảng cáo off-side lên 8 đối tác, trong đó có thể kể đến The Hairpin, Thought Catalog, và Dealbreakerl; Steinberg còn cho biết đến tháng 4 cùng năm, ông sẽ gấp đôi con số này lên. [13] Năm 2013, một phát ngôn viên BuzzFeed giải thích với Jeff Bercovici từ Forbes:

“Chúng tôi đang làm việc với một số trang web, bao gồm Fark, nhằm mở rộng việc quảng cáo social-content lên các trang bên thứ 3. Vì chúng tôi tìm kiếm và hợp tác với các trang web mà người ta hay thường tìm nội dung trên đó để share, nên chúng tôi gọi chương trình này là Social Homepages, chương trình hiện chỉ cho các mục quảng cáo trên trang chủ. Chương trình sẽ bắt đầu với Fard vào tháng hai.” [18]

Tương tự, SteinBerg nói thêm, “chúng tôi luôn mong muốn doanh nghiệp không bị giới hạn bởi quy mô của web chúng tôi. Nói cách khác, hoạt động quảng cáo sẽ không chỉ gói gọn trong BuzzFeed.” [13]

Tuy vậy, không phải ai cũng “phát cuồng” với native advertising. Tháng 9 năm 2013, trong một bài phát biểu với khoa báo chí trường đại học New York, Gerard Baker (tổng biên tập tờ Wall Street Journal) cảnh báo về “ranh giới ngày càng mờ nhạt giữa tin tức và quảng cáo… chúng ta phải tránh trường hợp này”. [25]

trước khi đóng cửa trang web hồi đầu năm 2012, Andrew Sullivan từ The Dish thường phản đối các “kỹ thuật biên tập cao cấp” (cách Andrew gọi những bài viết native ad) trong các bài viết như “Guess Which BuzzFeed Piece Is An Ad” (Ngạc nhiên chưa, bài viết trên BuzzFeed toàn là quảng cáo đấy). Trong một cuộc tranh luận với Ben Smith từ BuzzFeed, Sullivan nhấn mạnh ”Nếu báo chi không được tách biệt khỏi quảng cáo, thì nó đã hoàn toàn mất đi tác dụng của mình trong xã hội dân chủ.” [25]

Perreti lại cho biết công ty của ông “rất tôn trọng nhà nước và thiên chúa giáo”. Ông nói tiếp:

“Hiển nhiên rồi, chỗ Byline (dòng ngay dưới tiêu đề) là tên nhãn hàng. Chúng tôi sử dụng nền vàng (với các bài viết trả phí) mà Google cũng dùng cho quảng cáo. Thực tế, các nhãn hàng có thể tự viết bài trên trang của mình, hoặc đăng tải nội dung lên Youtube. Hiện nay, nếu nếu Elon Musk bị công kích trên tờ New York Times, anh ấy có thể đăng tải lên trang web của mình và thu hút hàng triệu lượt xem. Các nhãn hàng đề có một tiếng nói online cũng như tất cả mọi người đều có tiếng nói online của mình. Nhiệm vụ của chúng tôi không chỉ giúp các nhãn hàng thể hiện nội dung, mà còn thể hiện nội dung đó theo một cách lôi cuốn, chân thực nhất.” [25]

Thực ra, Peretti và Steinberg cho rằng branded content còn cao hơn marketing truyền thống một bậc, vì chúng tôi phải cố gắng phục vụ đọc giả để họ không những xem, mà còn phải chia sẻ những nội dung đó. Peretti và Steinberg cũng đưa ra một minh chứng rõ rệt cho hiệu quả của branded content: bài viết “10 nơi bạn phải đến ít nhất một lần trong đời”, với tỷ lệ nhấp (CTR) lên đến 6,1%, cũng như chiến dịch Virgin Mobile với số bài viết branded lên đến 200 bài, đạt 9,7 triệu “lượt tiếp cận”. [25] Đến thời điển tháng 12 năm 2014, khoảng 3 trên số 10 người click vào BuzzFeed native ad có chia sẻ bài viết qua email hoặc mạng xã hội. [24]

Data & Testing

Phần này tập trung vào lý do tại sao người ta lại chia sẻ nội dung, và cách mà “Big Seed Marketing” [32] (viral marketing) đã thúc đẩy Perreti càng đầu tư mạnh mẽ vào data & testing vượt xa các công ty truyền thông thông thường.

Ông giải thích hoạt động kinh doanh của BuzzFeed như sau:

“Chúng tôi tạo một nền tảng phân tích độ viral, cho phép theo dõi cách người dùng tương tác với truyền thông trong thời gian thực; cùng với một nên tảng quảng cáo viral cho phép dành nhiều traffic hơn cho các nội dung thực sự thu hút. Vì vậy, thông qua các dữ liệu được cập nhật nhanh chóng, chúng tôi tối ưu content theo hướng có tỷ lệ viral cao nhất, đồng thời sinh lời qua việc quảng cáo viral trên mạng lưới web của chúng tôi.” [33]

Và như Ken Lerer giải thích:

“Khi tôi còn làm chủ tích của the Hufington Post, nhiều biên tập viên hay vào văn phòng tôi nói ‘tôi có một ý tưởng rất hay cho một trang web dành cho phụ nữ!’ hay ‘Tôi muốn làm web thể thao!’ Và đa số tự đưa ý tưởng mà không có đối tác công nghệ nào cả. Những ý tưởng như thế không thể nào theo đuổi được. Trên môi trường Web, nếu chỉ có nội dung mà thiếu công nghệ cũng là vô nghĩa.” [8]

Tuy nhiên, ngay từ ban đầu, Peretti đã hướng BuzzFeed đến công nghệ. Quay lại đoạn email Nike tai tiếng và lần tiếp xúc đầu tiên của Peretti với ý tưởng viral, ông cho biết:

“Chúng tôi là một công ty công nghệ, nhưng lại xuất hiện trong mắt người dùng dưới dạng công ty truyền thông; vì khác với những mẫu truyện thu hút, không phải ai cũng hiểu rõ công nghệ. Mong muốn ban đầu của tôi cũng đâu phải trở thành một CEO hay sáng lập một công ty, hồi đấy tôi nghiên cứu và học tập để trở thành viên đại học mà. Có rất nhiều cơ hội xảy ra trong đời mà ta không thể tránh được. Nếu tôi không cách nào làm đoạn emaill Nike phổ biến rộng rãi, chắc gì tôi nảy ra được những ý tưởng này.” [25]

Song song với hoạt động của BuzzBot (theo dõi và phân tích content nào đang lan đi nhanh nhất), Peretti và BuzzFeed staff còn tỉ mỉ đánh giá và phân tích nhiều mặt của trang web. Buzzfeed có một đội nghiên cứu dữ liệu, sử dụng nhiều công cụ nhằm dự đoán được tiềm năng viral của bài viết; cùng với một đội thiết kế liên tục thay đổi giao diện trang web thông qua A/B testing và analytics. Với mỗi bài viết trên trang, sẽ có một dashboard cho ta thấy bài viết phổ biến như thế nào từ “seed views” (lượt view trực tiếp trên web hoặc từ link trên trang khác) ban đầu đến “social views” (lượt view từ blog, facebook, twitter,…). [25] Xung quanh cách làm việc tập trung vào data của BuzzFeed, M Magazine giải thích:

“BuzzFeed liên tục điều chỉnh hệ thống quản lý content của mình, tự xây dựng hệ thống quảng cáo; và quan trọng hơn, họ theo dõi các thông số chia sẻ của bài viết trên social media.” [8]

BuzzFeed còn có một công cụ data & testing nữa là headline optimizer (tối ưu hóa tiêu đề). Công cụ kết hợp các headline và hình thumbnail khác nhau và kiểm tra kết quả (theo giời gian thực), cho phép biên tập viên nhanh chóng xác định được tổ hợp hiệu quả nhất. Họ còn có thuật toán theo dõi traffic ban đầu và mức hoạt động trên mạng xã hội, giúp biên tập viên xác định nên đẩy mạnh nội dung nào trên mạng xã hội. [24]

Cách tăng trưởng và thu hút người của BuzzFeed là một minh chứng nữa cho tính chất công nghệ của công ty. Trong lúc đa số công ty truyền thông thường đầu tư vào xúc tiến và quảng cáo để thu hút người đọc, BuzzFeed lại hoàn toàn không đi theo hướng này. Cuối năm 2014, khi trò chuyện với Wired, Dao Nguyen (cô trở thành giám đốc tăng trưởng của BuzzFeed vào năm 2012) cho biết:

“Khi các công ty truyền thông nghĩ đến tăng trưởng, họ thường quy về chức năng marketing. Chúng tôi thì lại xem tăng trưởng là chức năng công nghệ — xây dựng công cụ và sản phẩn, và thay đổi nền tảng. Điều đó còn bền lâu hơn cả chiến dịch marketing. Khi bạn hết tiền, chiến dịch marketing cũng không còn.” [24]

Đặc biệt lưu ý rằng, trong hai năm đầu của Dao Nguyen ở công ty, lượng traffic tăng hơn 100% so với trước đó. Cô giải thích rằng, dữ liệu cho thấy phụ nữ share nhiều hơn nam giới, vì vậy một trong những đối tượng đầu tiên của cô là Pinterest (một mạng lưới chủ yếu được phụ nữ sử dụng), cô thêm nút “pin it” vào BuzzFeed mobile, ra mắt các mục BuzzFeed Food, Parents, Style, và cuối cùng là BuzzFeed Life. Khi lối nội dung của BuzzFeed thay đổi, Dao Nguyen cũng thêm nhiều thay đổi tùy theo xu hướng của người dùng Pinterest: loại bỏ nút share Twitter khi rõ ràng chả ai dùng đến nút này, hay xuất bản các nội dung về Halloween vào tháng 9,.. Đến tháng 9 năm 2014, Pinterest trở thành mạng xã hội quan trọng thứ hai của BuzzFeed. [24][36]

Bên cạnh tiềm năng to lớn từ nữ giới, dữ liệu cũng cho thấy nội dung tập trung vào phân khúc nhân khẩu học càng hẹp thì càng hoạt động tốt. Ví dụ như bài viết 27 dấu hiệu bạn lớn lên trong gia đình có bố mẹ là dân Châu Á nhập cư là một trong những bài viết thành công nhất của BuzzFeed, với lượt xem lên đến 2,3 triệu lượt. 17 loại thực phẩm kỳ quái nhưng lại quen thuộc với mọi người Nga (ngoại trừ borscht ra.) là một bài viết thành công nữa hướng đến phân khúc nhân khẩu học hẹp đăng tải hồi 2013, đạt đến 1,4 triệu lượt xem.

Mối quan hệ này nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng theo Peretti giải thích “ta hay nghĩ khi tập trung vào một phần nhỏ bé trong dân số, độ phổ biến của bài viết không cao… nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại. Vì truyền thông lan tỏa thông qua mạng xã hội, nên liên kết càng riêng tư lại càng là phương thức lan tỏa hoàn hảo.” [24]

Tuy vậy, Dao Nguyen cũng cảnh báo:

“Bên cạnh sự sáng tạo, bạn cũng phải biết suy luận liên tưởng, data chính là dữ kiện để bạn hiểu được tại sao kiểu nội dung này thành công, hoặc tại sao mọi người share nội dung này. Dù bạn cực kỳ may mắn đi nữa, data chỉ cho bạn biết ‘điều gì’ đã xảy ra thôi. Nó sẽ không bao giờ cho bạn biết lý do đâu. Nếu bạn muốn hiều được lý do tại sao, bạn cần nhiều kỹ năng khác nhau, hãy phân tích bằng não bộ và cảm nhận với trái tim: tại sao câu chuyện này tạo sự đồng cảm ở nhiều người đến vậy?

Ta có data, hoàn toàn là định lượng. Và rồi ta còn có thể thu thập thêm thông tin định tính. Đọc comment, đọc tweet, đọc các bài viết nói về bài viết của mình — tất cả thông tin này đều thuộc về định tính.

Tôi cảm thấy yếu tố quan trọng thứ 3 chính là yếu tố văn hóa thúc đẩy tất cả. Văn hóa, theo nhiều cách, chính là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của chúng tôi. Nhân viên của tôi và văn hóa của chính tôi khuyến khích hướng đi này, và cũng chính văn hóa này coi trọng giá trị của data và tất cả yếu tố đưa chúng tôi đến thành công.” [110]

Cô cũng gửi gắm một lời khuyên về content:

“Đừng tập trung hoàn toàn vào (bài viết) viral. Bạn cũng nên chú ý đến đến cả bánh mỳ và bơ nữa. Khi đó bạn mới học hỏi thêm được. Và tại đó bạn thấy được rất nhiều tiềm năng mới mẻ.”

Bánh mỳ và bơ trong lời khuyên của cô có thể được hiểu như sau: những nhóm bài viết tưởng chừng ít người chú ý, nhưng lại thành mega vira. Các bạn có thể tìm hiểu con đường đi đến thành công của cô tại đây.

Buzzfeed & Facebook (ban đầu): Con người là phương thức lan truyền hiệu quả nhất

Theo Alyson Shontell từ Business Insider chỉ ra:

“2011 là một năm tuyệt vời cho nhũng ai muốn cho ra đời thương hiệu mạng xã hội của riêng mình. Khi BuzzFeed xuất hiện năm 2006, Facebook chỉ mới có mặt được hai năm thôi. Twitter cũng sẽ ra mắt vào tháng 3 cùng năm, và phải mất nhiều năm nữa trước khi Twitter có được những thành công đầu tiên. Internet đã thay đổi rất nhiều và cuối cùng đã sẵn sàng cho tầm nhìn to lớn của Peretti.” [11]

Đến tháng 12 năm 2012, Facebook chiếm đến hơn 50% tổng lượt truy cập của BuzzFeed, chỉ ra tầm quan trọng của Sharing đối với công ty. [11] Peretti đã chứng minh được việc sử dụng facebook làm kênh phân phối chính là bước tiến hóa logic tiếp theo của truyền thông. Ông nhấn mạnh:

“Nếu ta có thể tận dụng mọi người làm kênh phân phối, sẽ tốt hơn cho truyền thông, tốt hơn cho báo chí, vì ta có thể tạo cảm giác nhân bản hơn và phá vỡ được những giới hạn của truyền thông. Chính con người sẽ lan tỏa thông tin, và đây chính là thông điệp mạnh mẽ hơn bất cứ thứ gì mà tự thân truyền thông có thể xây dựng được.” [11]

Đến cuối 2013, traffic của BuzzFeed đạt hơn 130 triệu lượt truy cập, lý do chủ yếu đằng sau sự tăng trưởng mạnh mẽ này là nhờ Facebook (chuyển sang dành traffic cho các tờ báo uy tín). [50] 2013 cũng là năm BuzzFeed đi lên chính thống nhờ sự giới thiệu của tổng thống Obama tại Buổi Tối cho Phóng Viên Nhà Trắng [76] cùng năm, và chuyên mục mới mang tên “Saw It On Buzzfeed” trên chương trình Jeopardy. [77]

Năm 2014, traffic trên máy tính của BuzzFeed tăng gấp đôi so với năm 2013, traffic mobile lại tăng đến 5 lần! Vì thời gian dùng Facebook của mọi người chiếm đến 20% tổng số thời gian sử dụng smartphone và tablet, tốc độ gia tăng này cũng không đáng ngạc nhiên. [56]

Đến tháng 3 năm 2016, BuzzFeed là đầu báo có nhiều lượt share nhất trên Facebook. [51]

CHIA SẺ